Lời nói đầu
Kinh tế tiếng Anh là economy có nguồn gốc từ tiếng hy lạp là oikonomous có nghĩa là người quản lý thu chi gia đình. Mới nhìn qua hai khái niệm này không mấy liên quan tới nhau, nhưng càng suy nghĩ kỹ sẽ càng thấy kinh tế và gia đình có rất nhiều điểm chung. Việc quản lý sắp xếp trong gia đình chính là việc phải dựa trên các nguồn lực hạn chế (thu nhập) để phân bổ các nhu cầu (chi tiêu) trong gia đình sao cho hợp lý. Đồng thời cần phải sắp xếp phân công lao động ví dụ như ai sẽ là người nấu cơm, ai rửa bát, ai ở nhà trông con, ai là người đi làm kiếm thu nhập …Nếu mọi việc không được sắp xếp hợp lý sẽ có người bận rộn, người nhàn rỗi, tháng thì chi tiêu quá nhiều, tháng thu nhập thấp dẫn tới thiếu cân bằng, lãng phí và khiến cuộc sống khó khăn hơn.
Xã hội cũng tương tự như vậy. Nguồn tài nguyên là có hạn, việc quản lý nguồn tài nguyên đấy là vấn đề vô cùng quan trọng. Chỉ từ những nguồn tài nguyên có trong xã hội mà có thể tạo ra hàng hóa, của cải mà tất cả mọi người đều muốn là việc không thể (Điều này gọi là tính khan hiếm). Bằng cách nào đó xã hội phải quyết định những công việc nào nên làm, ai sẽ làm nó… Nếu thực phẩm thức ăn là không thể thiếu thì quần áo may mặc cũng cần thiết, máy tính phần mềm trong thời đại này cũng là nhu cầu ko tách rời được. Sau khi phân bổ công việc, xã hội phải phân phối hàng hóa dịch vụ đã làm ra. Ai sẽ là người đi ô tô, ai sẽ là người đi xe bus … tất cả các yếu tố đó xã hội đều phải quyết định.
Kinh tế học là môn học nghiên cứu về cách thức xã hội quản lý các nguồn tài nguyên. Trong hầu hết các xã hội, tài nguyên không nằm trong tay một người mà nó nằm trong tay của rất nhiều người, gia đình, doanh nghiệp. Xã hội được quyết định dựa trên tổng thể của tất cả các hoạt động của những thành phần đấy. Kéo theo đó, các nhà kinh tế học sẽ nghiên cứu về cách thức con người đưa ra quyết định, số lượng lao động bao nhiêu thì tốt, trong thu nhập bao nhiêu nên tiết kiệm, trong số tiết kiệm bao nhiêu nên đầu tư … ngoài ra các nhà kinh tế sẽ nghiên cứu về cách thức con người tương tác với nhau ví dụ số lượng người bán và người mua bằng cách nào lại quyết định giá cả bán hàng hóa và lượng hàng hóa bán ra. Thêm vào đó các nhà kinh tế cũng phân tích xu hướng và các yếu tố ảnh hưởng tới tổng thể nền kinh tế ví dụ như tốc độ tăng giá cả, tỉ lệ thất nghiệp, tăng trưởng thu nhập bình quân …
Cũng giống như các môn khoa học tự nhiên toán, lý, hóa có các công thức, nguyên lý để nghiên cứu, các nhà kinh tế học cũng vậy. Họ có các nguyên lý và dưới đây là 10 nguyên lý cơ bản là cơ sở cho rất nhiều lý thuyết kinh tế khác và là nền móng của các nền kinh tế hiện đại.

Mọi người đưa ra quyết định như thế nào
Nguyên lý 1: Mọi người phải đối diện với sự đánh đổi
Tiếng Anh có câu:
There are no such thing as a free lunch
dịch tạm ra là ở đâu cũng vậy, không có bữa ăn nào là miễn phí. Câu thành ngữ này ám chỉ tới một quy luật trong kinh tế học là quy luật đánh đổi. Để có thể lấy được 1 thứ nào đó mình thích, trong phần lớn trường hợp bạn sẽ phải từ bỏ một điều bạn thích khác. Đưa ra quyết định chính là việc đánh đổi giữa một mục tiêu này và một mục tiêu khác.
Chúng ta hãy cùng lấy một ví dụ về cách thức một anh chàng học sinh đưa ra quyết định phân bổ một trong những tài nguyên quan trọng nhất của mình là thời gian vào việc học. Anh chàng có thể lựa chọn dùng toàn bộ thời gian của mình để học kinh tế, cũng có thể dành toàn bộ thời gian của mình để học tâm lý học, hoặc cũng có thể dành thời gian để học cả kinh tế lẫn tâm lý học. Trong trường hợp này nếu anh ta dành 1 giờ để học môn này nó cũng có nghĩa là sẽ phải từ bỏ 1 giờ để học môn kia và ngược lại. Thêm vào đó, với mỗi giờ dành cho việc học đồng nghĩa với việc cậu sẽ phải từ bỏ 1 giờ dành cho các hoạt động như xem phim, ngủ, tập thể dục, chơi game …
Một ví dụ khác dễ hình dung là ví dụ về phụ huynh thu chi trong gia đình. Họ có thể dùng thu nhập của gia đình để mua đồ ăn, quần áo, cũng có thể dùng nó để du lịch. Cũng có thể dùng để tiết kiệm sau khi về hưu và dùng làm học phí cho con cái. Dù là quyết định gì thì cứ mỗi đồng dùng cho việc này cũng đồng nghĩa với khoản tiền dành cho các việc khác sẽ giảm đi một đồng.
Trong xã hội có nhiều loại đánh đổi khác nhau, một ví dụ điển hình từ xưa tới nay là đại pháo hay bơ. Để đối phó với sự xâm lược kẻ thù và bảo vệ bờ cõi, nếu quốc gia tăng số lượng vũ khí, thiết bị quân sự (đại pháo) thì kéo theo nó là tài nguyên dùng để tăng mức sống tiêu chuẩn của người dân trong nước lên sẽ bị giảm xuống (bơ). Ngoài ra trong cuộc sống bạn có thể bắt gặp rất nhiều sự đánh đổi có thể dễ nhận ra như việc bảo vệ môi trường và thu nhập cao. Tăng giá và giảm lợi nhuận khi chi phí sản xuất tăng.
Trong xã hội có 2 yếu tố thường không đi kèm với nhau đó là tính công bằng và tính hiệu suất. Tính hiệu suất nghĩa là từ một nguồn tài nguyên có sẵn làm thế nào để có thể đạt được kết quả lớn nhất. Tính công bằng là từ các kết quả thu được từ các tài nguyên xã hội làm thế nào có thể phân bổ một cách đồng đều cho tất cả các thành viên. Nói một cách khác, tính hiệu suất là làm thế nào để miếng bánh của nền kinh tế ngày phình to ra cực đại, còn tính công bằng là làm thế nào chia các miếng bánh cho các thành phần trong xã hội một cách đồng đều. Các chính phủ thông thường sử dụng 2 công cụ chính để có thể phân chia lại miếng bánh xã hội là phúc lợi xã hội và thuế cá nhân. Dựa vào công cụ này, chính phủ có thể dịch chuyển một phần thu nhập từ người giàu hơn sang người nghèo, giúp tất cả mọi người có thể cùng đạt được các dịch vụ như nhau như dịch vụ công cộng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục …
Chỉ bằng việc nắm rõ quy luật đánh đổi, mọi người chưa thể biết được làm thế nào để đưa ra quyết định đúng đắn cũng như nên làm việc gì. Tăng thời gian dùng cho việc học kinh tế cũng không đồng nghĩa vứt bỏ hoàn toàn việc học tâm lý học. Việc bảo vệ môi trường làm cho giảm tiêu chuẩn sống của xã hội xuống không có nghĩa là chúng ta không nên bảo vệ môi trường. Tuy nhiên hiểu rõ các khả năng để lựa chọn chính là bước đầu tiên để chúng ta có thể đưa ra các quyết định lựa chọn hợp lý. Cùng với đó, việc học kinh tế nói riêng cũng như việc đối đầu với các quyết định trong cuộc sống bắt đầu từ việc nhận thức rõ về quy luật đánh đổi trong cuộc sống.
Nguyên lý 2: Chi phí của một thứ là những thứ phải từ bỏ để có nó
Con người sau khi đối diện với đánh đổi, vào lúc đưa ra quyết định thì việc cần thiết cần phải so sánh các yếu tố như chi phí, lợi ích của các lựa chọn. Trong nhiều trường hợp, chi phí của một hành động rất khó có thể đánh giá một cách chính xác.
Hãy lấy ví dụ trong trường hợp đưa ra quyết định của việc có học lên đại học hay không. Lợi ích của hành động này đó là việc nâng cao tri thức bản thân, việc có cơ hội có được công việc mình mong ước cả đời, có được thu nhập cao sau khi ra trường. Tuy nhiên nó cũng có chi phí của nó, vậy nó là gì? Trong trường hợp này có nhiều người sẽ đưa ra câu trả lời đó là tiền học phí, tiền giáo trình, tiền ăn, tiền ở trong thời gian học. Tuy nhiên đây chưa phải câu trả lời đúng vì có 2 lý do.
Điểm thứ nhất là nó bao gồm cả các chi phí không dành cho việc học đại học. Trong trường hợp không học đại học, mọi người vẫn phải ăn uống, ở. Chỉ trong trường hợp việc học đại học làm tăng chi phí này lên thì sẽ tính vào, và cũng sẽ chỉ tính phần phụ trội mà thôi.
Điểm thứ 2 là cách tính này đang ko tính đến thời gian đã dùng để học đại học. Nếu học sinh không học đại học, với thời gian dùng cho việc học của mình họ cũng có thể lao động, tạo ra của cải, tiền bạc. Và đó cũng là phần phí tổn đã mất đi.
Như vậy để đạt được một điều gì đó, người ta phải từ bỏ một số điều khác và những điều đó người ta gọi nó là chi phí cơ hội. Vì thế, khi đưa ra các quyết định của mình, người đưa ra quyết định nhất thiết phải nhận thức rõ về chi phí cơ hội của các lựa chọn mình có. Có rất nhiều ví dụ những người nổi tiếng trên thế giới đã bỏ học giữa chừng để đi theo sự nghiệp của mình và đã thành công rực rỡ như Bill Gate, Mark Zuckerberg… Có thể nói họ là những người vô cùng tài năng, sắc bén trong việc chớp cơ hội và đánh giá đúng được chi phí cơ hội của mình.
Nguyên lý 3: Những người có lý suy nghĩ dựa trên nguyên lý biên
Những người có lý có thể hiểu họ là những người để đạt được mục đích của mình, trong các điều kiện có thể, họ sẽ sắp xếp các yếu tố phù hợp, chọn phương thức tốt nhất, theo hệ thống nhất và hành động. Với các doanh nghiệp, để có thể tối đa hóa lợi nhuận của mình, các nhà quản trị sẽ cần phải suy nghĩ, tính toán xem cần thuê bao nhiêu nhân công, tạo bao nhiêu sản phẩm, bán hàng như thế nào … Với cá nhân mọi người cũng cần phải tính toán xem để có thể thỏa mãn với nhu cầu cuộc sống, mình cần phân bổ thời gian như thế nào cho hợp lý, bao nhiêu thời gian cho phát triển bản thân, bao nhiêu cho lao động, bao nhiêu cho vui chơi giải trí, dùng bao nhiêu tiền cho mua sắm, bao nhiêu tiền cho tiết kiệm …
Phần lớn các lựa chọn trong cuộc sống không phải là lựa chọn có hay không mà là bao nhiêu thì tốt. Bữa tối ko đơn giản là ăn hay không ăn mà là có nên ăn một bát canh hay một chút cơm nữa hay không. Khi gần tới kỳ thi không phải là việc lựa chọn dành 24h để học hay không mà là việc có nên giảm 1 giờ chơi game bằng việc ôn bài xem lại sách vở hay không. Nói cách khác phần lớn các quyết định chính là việc điều chỉnh thêm vào hay giảm đi và bao nhiêu là tốt. Các nhà kinh tế học gọi các vấn đề điều chỉnh đó là thay đổi mang tính cận biên. Trong nhiều trường hợp những người hợp lý sẽ so sánh chi phí biên và lợi ích biên để đưa ra lựa chọn cho mình. Việc áp dụng tốt nguyên lý cận biên có thể giúp doanh nghiệp, cá nhân thu được nhiều lợi ích hơn.
Ví dụ: Giả sử một máy bay có 200 chỗ ngồi và chi phí để thực hiện chuyến bay là 100000 USD. Như vậy giá trung bình của một ghế sẽ là 500 USD. Có nhiều người cho rằng hãng hàng không sẽ ko bao giờ bán vé rẻ hơn 500 USD vì đơn giản như vậy sẽ không có lãi. Tuy nhiên, giả sử rằng chỉ còn ít phút nữa là máy bay sẽ cất cánh, tuy nhiên vẫn còn có 10 chỗ trống. Trong khi đó có một số hành khách đang chờ ghế trống và sẵn sàng trả 300 USD để có vé ngồi. Vậy hãng hàng không có nên bán vé cho các hành khách này hay không? Câu trả lời tất nhiên là có. Trong trường hợp này chi phí biên của việc thêm hành khách là rất nhỏ. Dù cho chi phí trung bình là 500 USD, tuy nhiên trong trường hợp này để hành khách lên hãng hàng không chỉ mất thêm 1 bữa ăn và một chút chi phí phụ khác không đáng kể. So với việc để ghế trống cất cánh thì việc bán vé cho các hành khách này vẫn có lợi hơn nhiều.
Dựa trên nguyên lý cận biên chúng ta hãy cùng xem xét một vấn đề điển hình khác. Đó là tại sao nước lại rẻ, còn kim cương lại đắt dù cho nước rất cần cho sự sống còn kim cương thì lại không. Lý do theo nguyên lý cận biên nằm ở việc lợi ích biên khi thêm một đơn vị. Bởi vì nước rất dồi dào, lợi ích biên của việc thêm một cốc nước không đáng kể. Trong khi đó dù ko phải là vật thiết yếu, nhưng kim cương rất hiếm và lợi ích của việc thêm một 10 gram kim cương thôi cũng là rất lớn.
Nguyên lý 4: Con người phản ứng lại các kích thích
Các kích thích tiếng anh là incentive ở đây có thể hiểu là thù lao, lợi ích hay trừng phạt là các yếu tố ảnh hưởng tới các quyết định con người. Để dễ hiểu chúng ta lấy ví dụ về hành vi của mọi người khi giá táo tăng trên thị trường. Việc đầu tiên có thể nhận thấy là người tiêu dùng sẽ có xu hướng ăn táo ít đi. Thêm vào đó, giá táo tăng làm cho thu nhập của những người trồng táo cũng tăng lên, dẫn đến việc có nhiều người có xu hướng trồng táo bán. Việc này dẫn đến nhu cầu sử dụng thì giảm, trong khi đầu cung có xu hướng tăng, đó chính là cách con người phản ứng lại với các kích thích.
Đối với các nhà hoạch định chính sách thì kích thích thị trường vô cùng quan trọng. Dựa vào việc thay đổi chi phí và lợi ích mà các chính sách có thể làm thay đổi hành vi của mọi người. Nếu so sánh giữa Mỹ và châu Âu thì châu Âu có nhiều xe nhỏ hơn. Trong nhiều lý do có một lý do quan trọng đó là thuế xăng dầu ở Mỹ thấp hơn so với ở châu Âu. Thuế xăng dầu có thể làm cho mọi người sử dụng các phương tiện công cộng nhiều hơn, chuyển nhà tới gần công sở làm việc hơn… Tăng thêm nữa có thể làm cho mọi người sử dụng các phương tiện hybrid (động cơ chạy dùng cả xăng + điện) hoặc thậm chí là sử dụng động cơ điện hoàn toàn.
Việc không suy nghĩ kỹ về cách mọi người phản ứng lại kích thích có thể dẫn tới nhiều kết quả ngoài ý muốn. Hãy xem một ví dụ điển hình sau đây. Hiện tại tất cả các xe ô tô đều có dây an toàn, nhưng những năm 50 thế kỷ trước thì không phải như vậy, tất cả các xe đều không có dây an toàn. Vào năm 1965, Ralph Nader với cuốn sách Unsafe at Any Speed đã nói về vấn đề mà cả xã hội quan tâm thời bấy giờ là sự an toàn khi sử dụng xe ô tô. Chính dựa vào cuốn sách này mà luật về dây an toàn đối với tất cả các xe mới đã ra đời.
Vậy ảnh hưởng của việc ra đời dây an toàn sẽ ảnh hưởng như thế nào tới sự an toàn của những người sử dụng ô tô. Điều hiển nhiên nhất mọi người sẽ cho rằng đó là vì an toàn hơn nên tỉ lệ những người chết vì tai nạn giao thông sẽ giảm đi. Tuy nhiên thực tế kết quả từ điều luật này không đơn giản chỉ như vậy. Chính vì sự kích thích về độ an toàn mà hành vi người lái xe thay đổi. Thay vì phải đi cẩn thận, chú ý trong lúc đi xe, cũng giống phản ứng khi trạng thái đường tốt hơn, những người lái xe có xu hướng tăng tốc độ, và ít chú ý hơn trong lúc đi xe. Điều này dẫn tới việc dù tỉ lệ người chết vì tai nạn giảm đi, nhưng số vụ tai nạn tăng lên. Vì thế số người chết không thay đổi, thêm vào đó, sự an toàn của người lái xe tăng lên, nhưng lại tăng độ nguy hiểm đối với những người lưu thông khác như những người đi bộ trên đường.
Vì vậy đối với mỗi chính sách đưa ra, nếu không có sự phân tích và nhận định phản ứng kích thích của các thành phần trong môi trường một cách hợp lý và đầy đủ, sẽ rất khó đưa ra những chính sách phù hợp.
Con người ảnh hưởng tới nhau như thế nào
Nguyên lý 5: Giao dịch làm tất cả mọi người tốt hơn
Đôi khi trên các phương tiện thông tin đại chúng có tin rằng, giữa Nhật và Mỹ đang có cuộc chiến thương mại. Điều này chỉ đúng ở một số phương diện khi các công ty của Mỹ và Nhật sản xuất sản phẩm trên cùng một thị trường hướng tới cùng một nhóm khách hàng. Ví dụ như toyota và ford đều cũng sản xuất ô tô và cùng hướng tới khách hàng bình dân. Lẽ tất yếu là các công ty này phải cạnh tranh với nhau.
Tuy nhiên khi nói giữa 2 quốc gia đang có cuộc chiến về thương mại dễ làm người ta rơi vào hiểu lầm. Trong thương mại, không giống như cuộc thi thể thao khi một người thắng thì sẽ có một người bại, ngược lại, giao thương thương mại giữa 2 quốc gia làm cho cả hai giàu mạnh hơn.
Để hiểu được điều này hãy suy nghĩ về ảnh hưởng của giao dịch tới gia đình bạn. Giả sử một thành viên trong gia đình bạn đang đi xin việc, lẽ dĩ nhiên là gia đình bạn đang cạnh tranh với một gia đình khác mà cũng có thành viên đang đi tìm công việc ấy. Khi mua hàng hóa cũng vậy, để mua được hàng hóa tốt nhất và rẻ nhất gia đình bạn phải cạnh tranh với tất cả các gia đình khác. Tương tự như vậy các gia đình trong nền kinh tế có thể hiểu là đang cạnh tranh với tất cả các gia đình khác. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa nếu chỉ có gia đình bạn thì bạn sẽ trở nên giàu có hơn. Khi độc lập bạn sẽ phải tự cung tự cấp, bạn phải làm nhiều nghề để có thể cung cấp đầy đủ nhu cầu bản thân. Nhưng khi giao dịch, bạn chỉ cần tập trung vào những công việc mình giỏi nhất, tạo năng suất tốt nhất, từ đó trao đổi các hàng hóa dịch vụ với các gia đình khác. Điều đó khiến xã hội chuyên môn hóa cao, sản lưởng tăng lên, và vì thế tất cả đều sung túc hơn.
Các quốc gia cũng tương tự như gia đình, khi các nền kinh tế trao đổi với nhau, các quốc gia có thể tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực mình có lợi thế. Từ đó thông qua giao dịch với các quốc gia khác nhập khẩu các sản phẩm khác. Việt Nam, Nhật, Mỹ … đều là các đối thủ cạnh tranh nhau trên thị trường, nhưng đồng thời cũng là các đối tác giao dịch của nhau. Dựa vào quy luật này bạn cũng sẽ lý giải được tại sao thời gian vừa qua khi châu Âu cấm vận Nga thì cả Nga và châu Âu đều chịu thiệt như nhau.
Nguyên lý 6: Thị trường thông thường chính là đối sách tốt cho hoạt động kinh tế
Những năm 80 thế kỷ trước, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đông âu đã áp dụng chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa. Ở đó các nhà hoạch định kinh tế của đất nước sẽ lên kế hoạch và quyết định phân phối các tài nguyên của đất nước dựa theo kế hoạch đã có. Đây gọi là nền kinh tế bao cấp. Nguyên lý của nền kinh tế này là việc tổ chức các hoạt động kinh tế nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của đất nước chỉ có thể do nhà nước thực hiện.
Hiện nay nền kinh tế bao cấp ở hầu hết các nước đều đã được xóa bỏ (Việt nam xóa bỏ năm 1986) mà thay vào đó là nền kinh tế dựa theo thị trường chi phối gọi là nền kinh tế thị trường. Việc hoạch định chính sách thay vì do nhà nước quyết định trước kia được thay bằng quyết định hoạch định của hàng trăm nghìn doanh nghiệp, hàng triệu hộ kinh doanh gia đình quyết định. Các thành phần tham gia thị trường sẽ tự quyết định mình muốn mua gì, sản xuất gì. Dựa vào đó các công ty và gia đình sẽ tác động với nhau trên thị trường. Không chỉ giá cả mà cả lợi nhuận cũng sẽ do thị trường chi phối. Có thể hiểu dựa vào đấy, các cá nhân có thể tập trung vào những lợi thế của mình, tập trung nguồn lực phát triển các sản phẩm, dịch vụ mình làm tốt nhất. Từ đó về tổng thể nền kinh tế, sẽ phát triển nhanh và mạnh hơn.
Cùng với việc học kinh tế, cần phải hiểu được cách thức giá cả hình thành dựa trên các bàn tay vô hình đang dẫn dắt các hoạt động của ngành kinh tế. Ở thị trường nào cũng vậy, những người mua sẽ luôn nhìn giá bán để quyết định xem nhu cầu như thế nào là đủ, những người bán sẽ nhìn vào giá bán để quyết định sẽ sản xuất bao nhiêu là vừa. Sự phản ánh từ cả 2 phía sẽ quyết định tới giá thành và số lượng sản xuất chung của sản phẩm dịch vụ. Smith tác giả của kinh tế thị trường đã viết rằng dựa vào các quyết định cá nhân trong nhiều trường hợp sẽ dẫn tới kết quả làm tăng tối đa hiệu suất của tổng thể xã hội.
Smith cũng chỉ ra rằng, sự can thiệp vào việc điều chỉnh cung cầu tự nhiên của nhà nước sẽ làm yếu đi sức mạnh của bàn tay vô hình điều chỉnh quyết định của doanh nghiệp và cá nhân cấu thành nền kinh tế. Ví dụ về điều này có thể đưa ra là năm 2014 ở Nhật tăng thuế từ 5% lên 8%. Tuy nhiên chính việc này dẫn tới giá cả của sản phẩm thay đổi đáng kể, nó dẫn tới giá cả của các mặt hàng nhu yếu phẩm tăng, tiền dư ra cho các dịch vụ giải trí và xa xỉ giảm đi. Điều này dẫn tới việc phân bố sản lượng ở các thị trường khác nhau đáng kể. Đồng thời với việc dự định tăng thuế lên 10% người dân Nhật có xu hướng tiết kiệm hơn và nó dẫn tới việc sức tiêu thụ của Nhật giảm đi.Những chính sách ảnh hưởng tới giá cả dịch vụ như thuế có thể làm biến dạng các quyết định của các yếu tố nền kinh tế, cũng như việc phân bổ nguồn lực.
Nguyên lý 7: Chính phủ cũng có thể cải thiện được kết quả của thị trường.
Nếu bàn tay vô hình có sức mạnh lớn như vậy thì tại sao lại cần chính phủ. Vai trò và ý nghĩa của chính phủ trong thị trường là gì.
Một trong những lý do về sự cần thiết của chính phủ là để thực hiện hiệu quả ma thuật của bàn tay vô hình thì chính phủ cần duy trì chế độ thiết yếu và là người nắm giữ các luật lệ của cuộc chơi. Ví dụ nhà nước cần có chế độ bảo hộ quyền sở hữu của các cá nhân tổ chức. Giả sử thị trường băng đĩa lậu quá phát triển, đĩa lậu ko mất tiền đầu tư bán giá rẻ thì sẽ không có ai đầu tư để làm DVD. Khi không đảm bảo được việc khách hàng tới cửa hàng phải trả tiền sau khi ăn thì rõ ràng sẽ ko có ai dám mở nhà hàng nữa. Như vậy dù có bàn tay vô hình điều tiết nền kinh tế đi nữa, thì vẫn có rất nhiều việc cần thiết chính phủ cần làm để đảm bảo quyền lợi của người kinh doanh.
Ngoài ra thêm một lý do nữa, sức mạnh của bàn tay vô hình không phải là vạn năng. Đôi khi chính phủ cần phải tham gia vào thị trường và phân phối lại các tài nguyên hữu hạn. 2 lý do lớn đó là thay đổi tính hiệu suất, hoặc thay đổi tính công bằng. Nói một cách khác, mục đích nhằm làm to chiếc bánh hoặc phân phối lại các phần của miếng bánh mà đôi khi chính phủ cần có các tác động nhất định.
Đầu tiên chúng ta hãy xem về tính hiệu suất. Thông thường bàn tay vô hình sẽ đưa miếng bánh thị trường to ra cực đại, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Trong kinh tế học việc này gọi là sự thất bại của thị trường. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của thị trường có thể hiểu đó là tính bên ngoài. Tính bên ngoài là việc hành động của một người gây ảnh hưởng tới những người không liên quan. Để cho dễ hiểu chúng ta có thể lấy một ví dụ điển hình đó là thị trường bẩn. Một trong những nguyên nhân khác dẫn tới thất bại thị trường là sức mạnh chi phối thị trường. Một người hoặc một nhóm nhỏ người có khả năng chi phối giá cả của thị trường. Ví dụ cho dễ hiểu là cả một thành phố chỉ có một nhà máy nước, và nhà nước này lại nằm trong tay của một người. Để làm lợi cho mình, người này có thể chi phối nguồn cung nước một cách có chủ ý. Điều đó dẫn tới việc giá cả không theo thị trường mà sẽ có phần chủ ý của cá nhân. Hiện tại ở Việt Nam các lĩnh vực điện, nước, dầu khí đều tương tự như vậy.
Tiếp theo nói về tính bình đẳng. Trong lĩnh vực này năng lực của bàn tay vô hình còn yếu hơn nữa, khi nó không đảm bảo được tất cả mọi người đều có cơm ăn áo mặc đầy đủ. Ví dụ các vận động viên thể thao như bóng đá, bóng rổ thường kiếm được nhiều tiền hơn rất nhiều so với các vận động viên cờ. Vì đơn giản người xem sẵn sàng trả tiền để xem các vận động viên thể thao thi đấu hơn là các vận động viên cờ. Ngoài ra ở các vùng miền khác nhau yếu tố ngoài tác động cũng có thể ảnh hưởng tới tiền lương. Ví dụ ở vùng rừng núi khi không có điều kiện giao thương, nhân công thường rẻ mạt … Để có thể điều hòa các yếu tố đấy và tạo tính bình đẳng cho xã hội cần có sự tác động của chính phủ như chính sách trợ giá, lương tối thiểu …
Việc nói rằng các thị trường được điều tiết hợp lý không phải lúc nào cũng đúng. Nó là một quá trình lâu dài. Đôi khi chính phủ có ý định làm điều tốt tuy nhiên họ không đủ thông tin hoặc không lường hết hậu quả của chính sách cũng có thể làm chính sách thất bại.
Tổng thể nền kinh tế hoạt động như thế nào
Nguyên lý 8: Mức sống ở một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất của cải hàng hóa dịch vụ của nước đó
Nhìn ra thế giới sự khác biệt về mức sống ở các quốc gia là tương đối rõ rệt. Năm 2008 thu nhập bình quân đầu người của Mỹ là 47.000 USD, ở Mexico là 10.000, ở Nigeria là 1.400USD còn ở Việt Nam là khoảng 1000USD. Cũng không có gì ngạc nhiên khi chênh lệch về thu nhập bình quân sẽ phản ánh vào các điều kiện tiêu chuẩn khác nhau của cuộc sống. Những nước có thu nhập cao người dân sẽ có nhiều tài sản có giá trị hơn như o tô, tivi, tủ lạnh, họ được chăm lo các dịch vụ tốt hơn, chất lượng hơn, tuổi thọ trung bình cao hơn so với các nước có thu nhập thấp.
Mức sống thay đổi lớn theo thời gian. Nhìn vào lịch sử, Mỹ có thu nhập trung bình tăng 2% mỗi năm (đã điều chỉnh theo lạm phát), với tốc độ này cứ sau khoảng 35 năm thu nhập trung bình của nước Mỹ tăng gấp đôi. Trong thế kỷ 20 trung bình nước Mỹ tăng 8 lần về thu nhập.
Vậy sự khác biệt giữa thu nhập các nước đến từ đâu. Có thể bạn nghĩ ra rất nhiều nguyên nhân, nhưng câu trả lời thực ra rất đơn giản. Câu trả lời phần lớn đến từ năng suất lao động. Năng suất lao động có nghĩa là lượng hàng hóa dịch vụ một người làm ra trong 1 giờ hoặc một đơn vị thời gian bất kỳ. Ở những quốc gia mà trong một giờ một người làm ra lượng của cải nhiều hơn một nước khác thì mức sống người dân ở những nước đó thường cao hơn. Do đó cũng có thể nói rằng, tăng trưởng năng suất lao động sẽ làm tăng trưởng thu nhập bình quân.
Ở đây chúng ta có thể hiểu rằng, năng suất lao động là vấn đề chính thì tất cả các yếu tố khác sẽ là những yếu tố thứ yếu. Những năm 70,80 của thế kỷ trước, khi tốc độ tăng trưởng của Mỹ giảm xuống thấp, có nhiều ý kiến cho rằng đó là do họ đang phải cạnh tranh với một nước Nhật đang lên. Nhưng thực tế nguyên nhân thực sự không phải như vậy, mà la do nội tại bản thân nước Mỹ có vấn đề về việc tăng trưởng năng suất lao động của mình. Khi giải quyết được những vấn đề đó, nước Mỹ trong 2 thập niên qua vẫn tăng trưởng ổn định.
Mối quan hệ giữa mức sống người dân và năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng tới các chính sách công. Khi muốn tăng mức sống người dân thì điều câc nhà hoạch định chính sách nên nghĩ đầu tiên đó là làm sao để có thể tăng năng suất lao động lên. Việc tăng năng suất lao động có thể được thực hiện thông qua nhiều cách như đào tạo chuyên môn, sử dụng công nghệ mới, áp dụng kỹ thuật máy móc, các công cụ sản xuất … Ví dụ trong những năm qua Việt Nam phát triển vượt bậc, lý do lớn nhất không phải là do sự lãnh đạo của đảng mà đó là do chúng ta đã áp dụng khoa học kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực, áp dụng các thành tựu mới của thế giới. Vì thế, trong những năm tiếp theo muốn Việt Nam muốn tiếp tục duy trì đà phát triển thì việc quan trọng vẫn phải làm sao tăng được năng suất lao động của người dân.
Nguyên lý 9: Nếu chính phủ in nhiều tiền, giá cả hàng hóa sẽ tăng
Tháng 1 năm 1921, 1 tờ nhật báo ở Đức có giá 0,3 mark, thế nhưng chưa đầy 2 năm sau, vào tháng 11 năm 1922 giá của tờ báo ấy là 7.000.000 mark. Giá cả của các hàng hóa cũng tăng tương tự như vậy. Đây chỉ là một ví dụ điển hình cho hiện tượng kinh tế học gọi là lạm phát khi giá cả hàng hóa tăng cao.
Nước Mỹ những năm 1920 dù không bị lạm phát như Đức, nhưng trong lịch sử cũng nhiều lần xảy ra lạm phát. Những năm 1970, trong 10 năm giá cả hàng hóa của Mỹ tăng gần gấp đôi, đên mức tổng thống Mỹ phải nói rằng “lạm phát đang là kẻ thù lớn nhất của đất nước”. Trong 10 năm đầu thế kỷ 21, lạm phát ở Mỹ trung bình tăng 2.5%. Với tốc độ tăng lạm phát như thế này trung bình sau 30 năm giá cả sẽ tăng gấp đôi. Tỉ lệ lạm phát cao ảnh hưởng xấu tới rất nhiều mặt nền kinh tế, vì thế giữ tỉ lệ lạm phát thấp là một trong những việc hàng đầu của tất cả các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới.
Vậy đâu là nguyên nhân của lạm phát là do đâu. Phần lớn lạm phát xuất phát từ một nguyên nhân đó là lượng cung tiền mặt lớn. Nếu chính phủ cung cấp lượng tiền mặt lớn thì giá trị của tiền tệ sẽ giảm xuống. Trong năm 1920 trung bình ở Đức giá cả tăng gấp 3 sau 1 tháng. Và quả thực là lượng tiền mặt cũng tăng tương tự như thế, 1 tháng tăng 3 lần. Dù không tồi tệ như Đức nhưng lịch sử kinh tế Mỹ cũng đã chứng mình sự tương đồng giữa tiền tệ và lạm phát. Những năm 1970 lượng tiền tệ ở Mỹ tăng vọt. Còn hiện nay tỉ lệ này tăng nhẹ cùng với lạm phát.
Nguyên lý 10: Xã hội đối diện với sự đánh đổi lạm phát và sự thất nghiệp trong ngắn hạn
Nếu lượng tiền cung tăng liên tục trong dài hạn thì mức giá cả hàng hóa sẽ tăng theo. Tuy nhiên trong ngắn hạn thì không phải như vậy. Các nhà kinh tế học giải thích việc tăng lượng tiền trong ngắn hạn sẽ gây ra hậu quả như sau: Khi lượng tiền tăng lên sẽ kích thích tiêu dùng, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên. Nhu cầu hàng hóa tăng kéo theo các công ty có xu hướng tăng giá cả, đồng thời tuyển dụng sẽ tăng lên. Sản lượng hàng hóa dịch vụ tăng lên. * Tuyển dụng tăng sẽ làm cho thất nghiệp giảm xuống Suy nghĩ theo cách này sẽ đưa đến việc đánh đổi cuối cùng của tổng thể nền kinh tế. Đó chính là sự đánh đổi giữa lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp trong ngắn hạn.
Mặc dù có nhiều hoài nghi với quan điểm về sự đánh đổi này, nhưng hiện này hầu hết tất cả các nhà kinh tế học đều chấp nhận về sự tồn tại của loại đánh đổi này. Điều này có ý nghĩa rất nhiều chính sách kinh tế trong thời gian 1,2 năm sẽ làm thất nghiệp và lạm phát đi ngược lại với nhau. Khi lạm phát tăng tỉ lệ thất nghiệp sẽ giảm. Lạm phát và thất nghiệp không liên quan tới mức sống cao thấp, tất cả các nền kinh tế và hoạch định chính sách đều phải đối mặt với điều này. Sự đánh đổi trong ngắn hạn này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phân tích chu kỳ kinh tế. Chu kỳ kinh tế ở đây là sự biến động không theo một quy luật, quy tắc nào, không thể tiên đoán của mức hoạt động nền kinh tế được đo bằng số sản lượng hàng hóa dịch vụ và số lượng lao động.
Các nhà hoạch định chính sách sử dụng rất nhiều phương pháp chính sách và sự đánh đổi này cũng là một trong số đó. Dựa vào sự thay đổi chi tiêu chính phủ, lượng tiền tệ, thuế họ có thể gây ra ảnh hưởng tới nhu cầu của tổng thể nền kinh tế hàng hóa dịch vụ. Bằng cách thay đổi nhu cầu, họ có thể điều khiển được sự kết hợp giữa lạm phát và thất nghiệp trong ngắn hạn. Chính vì các nhà hoạch định chính sách có thể điều khiển nền kinh tế vì họ có trong tay quyền lực tiềm ẩn rất lớn này nên việc dùng các phương pháp này như thế nào đã trở thành đối tượng tranh luận quan trọng.
Trong thời kỳ đầu của tổng thống Mỹ Obama, cuộc tranh luận này đã trở thành tâm điểm của mọi sự chú ý. Năm 2008,2009 Mỹ cũng như nhiều nước khác trên thế giới bị cuốn vào cuộc khủng hoảng kinh tế. Bởi vì những sai lầm trong đầu tư vào thị trường nhà đất, hệ thống tài chính Mỹ gặp vấn đề, kéo theo đó là hàng loạt các công ty phá sản gây ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế. Các nhà quản lý lúc đấy đã đưa ra rất nhiều biện pháp đối phó, một trong số đó là dự định tăng nhu cầu đối với hàng hóa dịch vụ. Ban đầu tổng thống Mỹ đã đưa ra gói kích cầu bằng việc giảm thuế kết hợp với tăng chi tiêu chính phủ. Cùng lúc đó ngân hàng trung ương Mỹ là cục dữ trữ liên bang Mỹ cũng tăng lượng tiền lưu thông lên. Tất cả điều này nhằm mục đích là giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống. Tuy nhiên cũng có những người cho rằng các chính sách này sẽ kéo theo việc trong dài hạn tỉ lệ lạm phát sẽ tăng cao. Và điều này cũng ko có lợi cho nền kinh tế Mỹ.
Dựa theo cuốn Principles of economic của N. Gregory Mankiw